'Bất cập chuyện một cốc sữa chịu sự điều hành của ba bộ, lúc xảy ra sự cố ngộ độc lại loay hoay xác định bên quy trách nhiệm'

Hoạt động khai thác sữa tươi tại nông trại do Bộ Nông nghiệp phụ trách, giai đoạn chế biến đóng gói thuộc thẩm quyền Bộ Công thương, trong khi Bộ Y tế chịu trách nhiệm kiểm soát các yếu tố vi chất dinh dưỡng; sự chồng chéo này khiến việc quy định sai phạm khi có sự cố ngộ độc gặp nhiều trở ngại.

'Bất cập chuyện một cốc sữa chịu sự điều hành của ba bộ, lúc xảy ra sự cố ngộ độc lại loay hoay xác định bên quy trách nhiệm'

'Mỗi hộp sữa chịu sự giám sát của ba bộ ngành, khi xảy ra sự cố nhiễm độc lại đùn đẩy tìm đơn vị chịu trách nhiệm'

Ngành nông nghiệp phụ trách khâu giám sát sữa tươi tại trang trại chăn nuôi, trong khi giai đoạn chế biến đóng hộp lại do Bộ Công thương chịu trách nhiệm, còn Bộ Y tế chịu trách nhiệm kiểm định các yếu tố vi chất dinh dưỡng. Chính sự phân tách này khiến việc quy trách nhiệm trở nên vô cùng nan giải khi phát sinh sự cố ngộ độc.

Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM, bà Phạm Khánh Phong Lan, đã đưa ra dẫn chứng mang tính thực tế này trong bài phỏng vấn ngày 13/7. Bà nhận định đây là biểu hiện rõ nét của tình trạng "quản lý chồng chéo, giao thoa" hiện nay, giữa bối cảnh tiến trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm đang được thảo luận.

TP HCM tự hào là đơn vị hành chính đầu tiên tại Việt Nam thành lập cơ quan chuyên trách cấp Sở về An toàn thực phẩm. Đảm nhận vị trí lãnh đạo cao nhất của Sở ngay từ những ngày đầu, bà Lan được biết đến là một chuyên gia sở hữu tư duy sắc bén và bề dày kinh nghiệm trong ngành.

- Thưa bà, trước đề xuất cải cách trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi về việc giao Bộ Y tế đứng ra làm cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm quản lý toàn diện đối với lĩnh vực thực phẩm, bà có quan điểm như thế nào?

- Tôi bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ tuyệt đối đối với phương án này. Đây trên thực tế không phải là ý tưởng hoàn toàn mới, mà chính là hành động cụ thể hóa tinh thần Chỉ thị 17 ban hành năm 2022 của Ban Bí thư, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tập trung toàn bộ thẩm quyền quản lý an toàn thực phẩm về một đầu mối duy nhất từ cấp Trung ương xuống tới các địa phương.

Trong suốt nhiều năm qua, cục diện quản lý ở mảng này vẫn chưa đem lại kết quả tối ưu như kỳ vọng của xã hội. Nguyên nhân khách quan xuất phát từ thực trạng các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm trong nước còn ở thế manh mún, mang tính chất nhỏ lẻ cao. Nguyên nhân chủ quan nằm ở chỗ bộ máy phụ trách bị cắt khúc, chia nhỏ. Giai đoạn trước đây chúng ta thực hiện giám sát theo từng công đoạn cụ thể của chuỗi cung ứng, sau đó đến Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thì chuyển đổi sang phương thức phân chia theo nhóm mặt hàng. Dẫu vậy, các khoảng trống giao thoa trách nhiệm giữa các bên ngoài thực địa vẫn vô cùng phức tạp.

Hãy nhìn vào câu chuyện của mặt hàng sữa để thấy rõ bất cập: dòng sữa tươi vừa thu hoạch tại chuồng trại chịu sự quản lý của ngành nông nghiệp; nhưng khi đã chuyển trạng thái thành sản phẩm hoàn thiện đóng bao bì thì quyền giám sát lại thuộc về ngành công thương; còn nếu sản phẩm đó được gia công thêm các chất bổ sung hoặc mang công dụng y lý đặc biệt thì quyền quyết định lại chuyển sang ngành y tế. Trong điều kiện vận hành bình thường, những kẽ hở này rất khó bị phát giác. Tuy nhiên, bất cứ khi nào phát sinh các vụ việc nhiễm độc hay sự cố y tế, phản xạ đầu tiên của các bên thường là nhìn ngó xung quanh nhằm phân định xem lỗi thuộc về đơn vị nào, thay vì tập trung nguồn lực để xử lý khủng hoảng ngay lập tức nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất cho người dân.

Đối với chuỗi cung ứng thực phẩm, các mắt xích từ sản xuất, phân phối lưu thông đến tiêu thụ cuối cùng có mối quan hệ hữu cơ mật thiết, không thể vạch ra những lằn ranh chia cắt cơ học một cách tuyệt đối. Do đó, việc quy tụ về một đầu mối duy nhất sẽ tạo ra cơ chế chỉ huy tập trung, cho phép đưa ra các quyết định điều hành và phân nhiệm tức thì mà không cần tiêu tốn thời gian phân định thẩm quyền xử lý vụ việc thuộc về bộ ngành nào. Theo mô hình đổi mới đang được đề xuất, những bộ phận chuyên môn phụ trách an toàn thực phẩm thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Công thương sẽ được điều chuyển, sắp xếp tập trung về cùng một hệ thống quản lý dưới sự điều hành của Bộ Y tế. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta không hề làm mai một đi năng lực chuyên môn nghiệp vụ sẵn có, mà chỉ đơn thuần là thống nhất lại vị trí người tổng chỉ huy.

Công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm không thể vận hành theo kiểu thụ động, tức là đợi đến lúc sản phẩm hoàn chỉnh đã bày bán ngoài thị trường mới tiến hành thu thập mẫu đem đi kiểm nghiệm, hay ngồi chờ xảy ra ngộ độc nghiêm trọng rồi mới lật ngược quy trình đi tìm nguồn gốc. Chúng ta bắt buộc phải thiết lập cơ chế giám sát toàn diện từ gốc đến ngọn, bao quát đầy đủ từ khâu nuôi trồng, chế biến, phân phối lưu thông cho đến bàn ăn của người tiêu dùng. Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, sự hiện diện của một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt, đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị là điều kiện tiên quyết, thay vì tiếp tục duy trì thực trạng mỗi công đoạn lại do một ngành khác nhau nắm giữ.

- Dưới góc nhìn chuyên môn của mình, bà đánh giá đâu là những rào cản, điểm nghẽn lớn nhất đang bủa vây công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm hiện thời?

- Theo tôi, có ba nút thắt mang tính cốt lõi cần phải tháo gỡ.

Vấn đề đầu tiên nằm ở chính mô hình kinh doanh và sản xuất thực phẩm mang đậm đặc thù nhỏ lẻ của thị trường Việt Nam. Hệ thống quản lý của chúng ta hiện nay vẫn phải bao bọc một lượng khổng lồ các mô hình kinh doanh từ chợ truyền thống, các khu chợ tự phát, cho đến các hộ kinh doanh cá thể, hộ bán hàng rong ven đường hay trào lưu kinh doanh trực tuyến... Việc duy trì trật tự và kiểm soát chất lượng đối với hàng trăm nghìn cơ sở phân tán như thế rõ ràng là một bài toán hóc búa hơn rất nhiều so với việc áp dụng quy chuẩn lên các hệ thống phân phối mang tính hiện đại.

Vấn đề thứ hai nằm ở thực trạng phân mảnh, rời rạc của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp lý giữa các bộ ngành đôi khi tạo ra những khoảng vênh, gây nên tâm lý lúng túng cho lực lượng thực thi khi đối mặt với thực tế.

Bản thân tôi từng trực tiếp xử lý một vụ việc phức tạp liên quan tới hành vi bơm thuốc an thần vào lợn trước thời điểm đưa vào lò mổ. Đứng trên góc độ bảo vệ sức khỏe người dân, chính quyền TP HCM kiên quyết áp dụng chế tài tiêu hủy toàn bộ số lượng heo vi phạm. Tuy nhiên, khi đối chiếu sâu vào các quy định pháp lý hiện hành, các bên lại rơi vào cuộc tranh cãi kéo dài về việc phải thực hiện các xét nghiệm để chứng minh hàm lượng thuốc tồn dư đạt ngưỡng bao nhiêu mới đủ căn cứ cấu thành hành vi gây hại cho sức khỏe. Trên thực tế, đối với các tình huống phát sinh đột xuất như vậy, lực lượng chức năng gần như không thể có sẵn đầy đủ các dữ liệu hay cơ sở khoa học để đưa ra phán quyết ngay tại hiện trường.

Kịch bản tương tự cũng xảy ra đối với các quy định liên quan đến danh mục các chất kháng sinh được phép sử dụng, khi giữa các ngành vẫn tồn tại những điểm chưa thực sự thống nhất, làm phát sinh rất nhiều rào cản pháp lý trong quá trình xử lý vi phạm sau này.

Vấn đề thứ ba chính là câu chuyện nhận thức của toàn xã hội. Tâm lý chung của người tiêu dùng là luôn đòi hỏi được tiếp cận và sử dụng nguồn thực phẩm sạch, an toàn. Dẫu vậy, khi trực tiếp đưa ra quyết định mua sắm, yếu tố giá thành rẻ vẫn được đặt lên bàn cân ưu tiên hàng đầu. Thực tế này vô hình trung đã tạo ra một áp lực cạnh tranh cực kỳ gay gắt trên thị trường tự do.

Tất nhiên, việc tập trung bộ máy về một mối duy nhất chưa thể ngay lập tức giải quyết triệt để tất cả mọi góc khuất, song động thái này ít nhất sẽ đặt dấu chấm hết cho thực trạng quản lý chồng chéo bấy lâu nay. Từ đó, tạo tiền đề vững chắc cho cơ quan quản lý chủ động hoạch định các chiến lược vĩ mô mang tính dài hạn và thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng.

- Bà đã không ít lần lên tiếng nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải thực hiện bước chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm. Vì sao bà lại coi đây là mắt xích quan trọng nhất cần phải thay đổi?

- Nhận định một cách thẳng thắn thì lực lượng làm công tác hậu kiểm của chúng ta hiện nay đang rơi vào tình cảnh bị "trói tay, trói chân" bởi cơ chế. Chúng ta đang tiêu tốn quá nhiều thời gian, công sức và nguồn lực cho giai đoạn tiền kiểm — tức là tập trung vào quy trình xét duyệt và cấp các loại giấy phép. Thế nhưng, câu chuyện hậu cấp phép — nghĩa là việc theo dõi, giám sát xem các tổ chức, doanh nghiệp đó tuân thủ các quy định trong quá trình vận hành thực tế ra sao — lại chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.

Trớ trêu là ở thời điểm hiện tại, phần lớn các hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đều phải thực hiện căn cứ theo kế hoạch đã được phê duyệt từ trước. Quy trình này đòi hỏi phải tiến hành lập danh sách cụ thể, gửi văn bản xin ý kiến chỉ đạo, chờ đợi phê duyệt từ cấp trên, và sau đó còn phải làm một thủ tục là gửi thông báo trước cho chính doanh nghiệp về thời gian đoàn sẽ đến làm việc.

Tôi còn nhớ rõ trường hợp một cơ sở kinh doanh nằm trong danh sách thanh tra định kỳ của chúng tôi. Cơ quan chức năng đã chủ động gửi văn bản thông báo lịch làm việc tới ba lần, tuy nhiên trong cả ba lần đoàn kiểm tra trực tiếp đến hiện trường thì cơ sở này đều thực hiện việc đóng cửa, kiên quyết từ chối hợp tác. Trước dấu hiệu trốn tránh rõ ràng của đối tượng, Sở đã đưa ra quyết định chuyển sang hình thức kiểm tra đột xuất và ngay lập tức phát hiện hàng loạt sai phạm nghiêm trọng tại đây. Điều đáng bàn là sau khi sự việc ngã ngũ, đơn vị này lại tiếp tục gửi đơn khiếu nại ngược lại cơ quan quản lý, với lý do tại sao lại tiến hành kiểm tra đột xuất mà không thực hiện theo đúng kế hoạch đã thông báo.

Nếu hoạt động thanh tra lúc nào cũng tuân theo quy trình phải đánh tiếng, báo trước cho đối tượng thì khả năng phát hiện các hành vi gian dối, vi phạm ẩn giấu là cực kỳ thấp. Nhìn ra thế giới, lực lượng thanh tra an toàn thực phẩm tại nhiều quốc gia phát triển được trao thẩm quyền rất rộng lớn trong việc tiến hành kiểm tra đột xuất mà không cần báo trước. Trái lại tại Việt Nam, sau mỗi lần lực lượng chức năng tiến hành một cuộc kiểm tra đột xuất, chúng tôi lại phải mất thời gian làm văn bản giải trình chi tiết về lý do tại sao lại tổ chức chuyến đi kiểm tra đó.

Theo quan điểm của tôi, quy trình tiền kiểm cần phải được tinh giản tối đa theo hướng thông thoáng nhằm giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính cho cộng đồng doanh nghiệp; ngược lại, các công cụ hậu kiểm cần phải được gia tăng quyền lực và chế tài mạnh mẽ hơn. Nếu chúng ta chỉ chú trọng khâu cấp phép ban đầu rồi sau đó buông lỏng, để mặc cho các đơn vị tự do vận hành mà không có sự giám sát hữu hiệu thì giai đoạn tiền kiểm trước đó cũng hoàn toàn đánh mất đi giá trị cốt lõi của nó.

Bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM. Ảnh: Tuấn Việt
Ảnh: Tham khảo trên vnexpress

Chân dung bà Phạm Khánh Phong Lan, người đứng đầu Sở An toàn thực phẩm TP HCM, ghi nhận vào ngày 13/7. Ảnh: Tuấn Việt

- Khi bàn về phương án quy tụ toàn bộ quyền lực về một đầu mối duy nhất, có những luồng ý kiến bày tỏ sự e ngại rằng Bộ Y tế có thể sẽ gặp khó khăn do thiếu hụt năng lực chuyên môn sâu để quán xuyến các mảng công việc vốn từ trước đến nay thuộc thẩm quyền riêng biệt của ngành nông nghiệp hay công thương. Bà nhận định thế nào về nỗi lo ngại này?

- Tôi không đồng tình với góc nhìn có phần hoài nghi như vậy. Việc thiết lập một cơ quan đầu mối duy nhất hoàn toàn không đồng nghĩa với việc yêu cầu tập thể cán bộ Bộ Y tế phải trực tiếp đứng ra đảm nhận và tự tay hoàn thiện tất cả mọi khâu công việc. Những đội ngũ nhân sự chuyên trách giàu kinh nghiệm đang phụ trách mảng an toàn thực phẩm ở các bộ ngành khác vẫn sẽ tiếp tục duy trì công việc chuyên môn thường nhật của họ, điểm khác biệt duy nhất là họ được điều chuyển biên chế và quy tụ về hoạt động trong cùng một hệ thống quản lý thống nhất.

Bản chất của cuộc cải cách này là sự thay đổi căn bản về cơ chế điều hành cấp cao chứ không phải là việc xáo trộn hay thay thế đội ngũ làm công tác chuyên môn nghiệp vụ dưới cơ sở. Đây cũng chính là bài học kinh nghiệm xương máu mà chính quyền TP HCM đã đúc rút được kể từ năm 2017, thời điểm địa phương thí điểm thành lập Ban Quản lý An toàn thực phẩm, tạo tiền đề vững chắc để phát triển lên mô hình cấp Sở như hiện nay. Ở giai đoạn sơ khai, nguồn nhân lực của Ban được tập hợp, điều động từ nhiều cơ quan khác nhau như ngành y tế, lực lượng thú y, bộ phận bảo vệ thực vật, cho đến chi cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản... Khi được quy tụ về dưới một mái nhà chung, từng cá nhân vẫn tiếp tục phát huy tối đa năng lực chuyên môn sâu của mình, đồng thời chấm dứt hoàn toàn được tình trạng phân tán, mạnh ai nấy làm như trước đây.

Giá trị cốt lõi lớn nhất thu được là khi xảy ra các tình huống khẩn cấp, chúng ta không còn phải chứng kiến kịch bản đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giữa các bên. Cơ quan đầu mối duy nhất sẽ đứng ra chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật, nhanh chóng đưa ra phương án phân công lực lượng vào cuộc xử lý ngay, loại bỏ hoàn toàn việc lãng phí thời gian cho các cuộc tranh luận xem sự vụ này thuộc quyền phân xử của ai.

- Trong giai đoạn vừa qua, toàn quốc đã ghi nhận liên tiếp nhiều sự cố ngộ độc thực phẩm với quy mô và mức độ ảnh hưởng lớn hơn hẳn giai đoạn trước, đặc biệt là các vụ việc xảy ra trong môi trường học đường và các chuỗi cơ sở dịch vụ ăn uống. Nhìn từ thực tế, mô hình quản lý tập trung một đầu mối tại TP HCM đã vận hành và ứng phó với các cuộc khủng hoảng này ra sao?

- Đúng là hệ thống giám sát của chúng tôi ghi nhận từ năm 2025 đến nay, diễn biến của các vụ ngộ độc thực phẩm có biểu hiện gia tăng về mặt số lượng, đồng thời trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý đặc biệt từ dư luận xã hội. Lực lượng chức năng đã trực tiếp vào cuộc xử lý nhiều vụ nhiễm độc liên quan đến mặt hàng bánh mì tại hàng loạt địa phương, đi kèm với đó là các sự cố đáng tiếc xuất hiện ngay trong môi trường học đường.

Mặc dù vậy, tôi cho rằng chúng ta cần có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn, không nên chỉ đơn thuần dựa vào số lượng các vụ việc được phát hiện để vội vã đưa ra kết luận rằng bức tranh tổng thể đang chuyển biến theo chiều hướng xấu đi. Điều tối quan trọng trong công tác quản lý là phải nhanh chóng bóc tách được nguyên nhân gốc rễ, từ đó đưa ra giải pháp bịt kín những kẽ hở pháp lý cũng như lỗ hổng trong quy trình giám sát.

Lấy ví dụ điển hình từ mặt hàng bánh mì — đây được xem là loại hình thực phẩm tiềm ẩn rủi ro ngộ độc cực kỳ cao do có cấu trúc phức tạp từ nhiều loại nguyên liệu thành phần kết hợp lại như pate, các loại thịt nguội, xúc xích, rau sống đi kèm... Chỉ cần xuất hiện sự bất cẩn trong một công đoạn nhỏ của quy trình bảo quản hoặc chế biến không đạt chuẩn là vi khuẩn đã có cơ hội xâm nhập và phát triển mạnh mẽ. Thêm vào đó, một thực tế gây khó khăn cho công tác điều tra là trong nhiều vụ việc, khi đoàn thanh tra tiếp cận được hiện trường thì phần lớn số thực phẩm nhiễm khuẩn đã được tiêu thụ hết sạch, không còn lại bất kỳ mẫu lưu vi sinh nào để đưa đi xét nghiệm, khiến hành trình truy tìm nguyên nhân ban đầu rơi vào ngõ cụt.

Nỗi trăn trở lớn nhất của tôi lúc này lại nằm ở câu chuyện năng lực hành chính và thực thi của hệ thống quản lý ở cấp cơ sở. Kể từ sau thời điểm địa phương triển khai áp dụng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tổ chức bộ máy và lực lượng nhân sự chuyên trách phụ trách mảng an toàn thực phẩm tại hệ thống các phường, xã vẫn đang nằm trong giai đoạn kiện toàn, sắp xếp lại. Phải nhìn nhận thực tế rằng tại không ít địa phương, lực lượng này đang rơi vào tình trạng mỏng và thiếu hụt nghiêm trọng, trong khi đây lại chính là chốt chặn tuyến đầu có nhiệm vụ bám sát địa bàn hàng ngày.

Chúng ta không thể duy trì cơ chế điều hành theo kiểu mọi sự vụ phát sinh dưới cơ sở đều phải ngồi chờ làm văn bản báo cáo lên cấp thành phố, rồi mới đợi thành phố cử đoàn xuống kiểm tra xử lý, vì quy trình tịnh tiến như vậy chắc chắn sẽ gây trễ nải và quá muộn để ngăn chặn hậu quả. Muốn nâng cao năng lực phát hiện sớm và dập tắt các nguy cơ ngay từ khi mới manh nha, bắt buộc chúng ta phải xây dựng được một lực lượng phản ứng nhanh, có đủ thẩm quyền trực chiến ngay tại địa bàn cơ sở.

Chính vì lẽ đó, tôi gửi gắm rất nhiều kỳ vọng rằng bước cải cách thống nhất một đầu mối quản lý lần này sẽ không chỉ dừng lại ở quy mô cấp Trung ương, mà sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ kéo theo dòng chuyển dịch mang tính đồng bộ trong việc kiện toàn toàn bộ hệ thống từ cấp tỉnh, thành phố xuống đến tận các cấp cơ sở. Khi dòng chảy thông tin được thông suốt và tập trung về một tổng kho dữ liệu, tốc độ phản ứng trước các sự cố sẽ được đẩy lên nhanh hơn rất nhiều, thẩm quyền trách nhiệm của từng vị trí cũng được định vị rõ ràng hơn, chấm dứt hoàn toàn tình trạng đùn đẩy do tranh chấp thẩm quyền giữa các bộ ngành.

- Sau chặng đường gần 10 năm trực tiếp vận hành và chèo lái mô hình cơ quan một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm tại TP HCM, bài học lớn nhất mà bà đúc rút được cho bản thân và ngành là gì?

- Không nên có tư duy ngây thơ cho rằng chỉ cần bấm nút thành lập Sở An toàn thực phẩm là lập tức mọi hành vi vi phạm pháp luật hay thực trạng sản xuất, kinh doanh mang tính chất nhỏ lẻ, manh mún ngoài xã hội sẽ tự động biến mất như có phép màu. Thực tế hoàn toàn không có chuyện đó. Việc thiết lập mô hình một đầu mối suy cho cùng chỉ là một công cụ quản lý hành chính giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của bộ máy Nhà nước, chứ bản thân nó không sở hữu chiếc đũa thần để ngay lập tức xóa nhòa đi những tồn tại, góc khuất vốn đã bén rễ sâu trong đời sống xã hội.

Thành tựu mang tính bước ngoặt lớn nhất mà mô hình cải cách này mang lại chính là sức mạnh cộng hưởng đến từ sự hợp nhất toàn diện. Ở giai đoạn trước đây, mỗi bộ ngành chủ yếu chỉ tập trung hoàn thành phần việc thuộc phạm vi quản lý của riêng mình. Khi được quy tụ về một mối, tất cả các lực lượng cùng ngồi lại để thiết kế những kế hoạch hành động chung, chủ động chia sẻ nguồn dữ liệu chuyên môn và hỗ trợ lẫn nhau trên mọi mặt trận. Tôi thường ví von câu chuyện này với bài học nhân văn về bó đũa trong dân gian. Giữa bối cảnh nguồn lực tổng thể còn nhiều hạn chế và chưa đủ mạnh mẽ, giải pháp tối ưu nhất là phải tập hợp các dòng sức mạnh lại làm một, thay vì tiếp tục phân rã thành những nhánh nhỏ lẻ.

Mặc dù vậy, bài toán về nguồn lực đầu tư và nhân sự vẫn luôn là một thách thức lớn đè nặng lên vai cơ quan quản lý. Địa bàn quản lý thực tế liên tục được mở rộng với tốc độ đô thị hóa chóng mặt, trong khi chính sách tinh giản biên chế chung vẫn phải nghiêm túc thực hiện. Nếu như trước đây, tổng số lượng nhân sự khi cộng dồn của cả ba ngành lại đạt quy mô gần 500 người, thì ở thời điểm hiện tại, sau khi hoàn thành công tác sắp xếp và tối ưu hóa bộ máy, tổng biên chế của Sở chỉ còn duy trì ở mức khoảng 350 người nhưng lại phải gánh vác trách nhiệm quản lý một phạm vi không gian và khối lượng công việc lớn hơn gấp nhiều lần.

Một vấn đề khác cũng khiến tôi luôn đau đáu suy nghĩ, đó là sự hiện diện của một vài quy định pháp lý lỗi thời đang vô tình buộc toàn xã hội phải gánh chịu những khoản chi phí phát sinh rất lớn, nhưng đổi lại hiệu quả quản lý thực tế thu về lại không tương xứng. Hãy nhìn vào quy trình các doanh nghiệp làm thủ tục hồ sơ công bố hoặc tự công bố chất lượng sản phẩm hiện nay, tất cả đều bắt buộc phải đính kèm phiếu kết quả kiểm nghiệm mẫu. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp được quyền chủ động tự mình mang mẫu sản phẩm đi kiểm nghiệm tại các trung tâm, lẽ tất nhiên là họ sẽ có xu hướng sàng lọc và lựa chọn ra những mẫu thử có chất lượng hoàn hảo nhất để gửi đi.

Thống kê thực tế tại TP HCM hiện có danh mục vượt ngưỡng 300.000 sản phẩm áp dụng hình thức tự công bố. Nếu chúng ta thử làm một bài toán nhân cấp số nhân quy mô này với tổng lượng chi phí để có được các phiếu kiểm nghiệm tương ứng, số tiền mà toàn xã hội phải chi trả là một con số khổng lồ. Trong khi đó, một câu hỏi mang tính bản chất vẫn chưa có lời giải thỏa đáng: liệu rằng những mẫu thử được đem đi kiểm định trong phòng lab đó có phản ánh chính xác 100% chất lượng của những lô sản phẩm đang thực tế lưu thông, bủa vây người tiêu dùng trên thị trường hay không?

Đứng trên quan điểm cá nhân, tôi cho rằng phía cơ quan quản lý Nhà nước nên mạnh dạn nghiên cứu tinh giản bớt những thủ tục mang nặng tính chất hình thức, đối phó như trên. Thay vào đó, cần tập trung tối đa nguồn lực để đẩy mạnh các hoạt động thu thập mẫu độc lập trực tiếp trên thị trường phục vụ cho công tác hậu kiểm. Đây mới thực sự là phương thức quản lý đi vào chiều sâu, mang tính thực chất và đem lại hiệu quả bảo vệ người dân cao nhất.

Lãnh đạo Sở An toàn thực phẩm TP HCM Phạm Khánh Phong Lan chia sẻ góc nhìn thẳng thắn về thực trạng bất cập mang tên "một ly sữa chịu sự quản lý của ba Bộ". Video: Tuấn Việt

- Đứng trước thềm sự kiện sửa đổi Luật An toàn thực phẩm lần này, đâu là điều bà gửi gắm nhiều sự kỳ vọng nhất?

- Tâm nguyện lớn nhất của tôi là mong sao những quy định mới của luật khi được ban hành phải thực sự đi vào đời sống một cách thực chất. Giai đoạn tiền kiểm cần phải được tinh giản tối đa các rào cản thủ tục hành chính không cần thiết, trong khi các công cụ hậu kiểm phải được tăng cường sức mạnh mang tính răn đe cao để thiết lập lại kỷ cương cho thị trường. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, điều bắt buộc là phải gia tăng thêm quyền hạn pháp lý, đồng thời bổ sung thêm các nguồn lực cần thiết cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra ngoài thực địa. Nếu những nút thắt, bất cập mang tính cốt lõi này không được thẳng thắn nhìn nhận và giải quyết triệt để, thì việc sửa đổi luật xong xuôi cũng rất khó có thể tạo ra được những bước chuyển biến mang tính đột phá trên thực tế.

Tôi cũng bày tỏ sự kỳ vọng rằng việc quy nhất bộ máy về một đầu mối chịu trách nhiệm sẽ giúp cho cộng đồng doanh nghiệp giảm thiểu được tối đa các đầu mối liên hệ, chỉ cần làm việc với một cơ quan duy nhất, từ đó cắt giảm được một lượng lớn các thủ tục hành chính rườm rà. Đồng thời, giúp cho cơ quan Nhà nước nâng cao đáng kể tốc độ phản ứng, đưa ra quyết định xử lý nhanh hơn rất nhiều khi xảy ra sự cố y tế.

Tuy nhiên, suy cho cùng, câu chuyện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm không bao giờ có thể là trách nhiệm độc quyền của riêng các cơ quan quản lý Nhà nước. Bản thân những người trực tiếp tham gia sản xuất phải giữ vững đạo đức nghề nghiệp, các tổ chức doanh nghiệp phải tự nâng cao ý thức và chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về chất lượng sản phẩm mình cung ứng ra thị trường. Bên cạnh đó, mỗi người dân cũng cần phải trở thành những người tiêu dùng thông thái, biết cách sàng lọc và lựa chọn các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tuân thủ đúng các hướng dẫn về bảo quản và sử dụng an toàn. Đó mới chính là giải pháp gốc rễ giúp đẩy lùi nguy cơ ngộ độc, hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái thực phẩm an toàn và phát triển bền vững.

Xin chân thành cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian quan tâm và theo dõi bài viết này. Sự đồng hành của quý vị là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục thực hiện những bài viết chuyên sâu tiếp theo. Kính mời quý bạn đọc tiếp tục click khám phá và tìm hiểu thêm những thông tin, bài viết liên quan vô cùng hữu ích ngay phía dưới.

Ý kiến bạn đọc (0)

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nghĩ của bạn!